Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp – quyền dân chủ thực sự thuộc về người dân
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp – quyền dân chủ thực sự thuộc về người dân
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại của xã hội Việt Nam, từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến sang nhà nước dân chủ nhân dân. Nơi mà người dân thực sự được làm chủ vận mệnh của mình.
Từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, hoạt động bầu cử luôn được coi là ngày hội lớn của toàn dân, là một phần quan trọng của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tham gia bầu cử là trách nhiệm thiêng liêng mỗi người dân, đồng thời cũng phản ánh sự phát triển của nền dân chủ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngay từ những ngày đầu đất nước mới được thành lập, Việt Nam phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nhất là phải đối mặt với 3 loại giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh ưu tiên diệt giặc đói, tiếp đến là giặc dốt và sau cùng là giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, dân sinh, và phát huy sức mạnh toàn dân … Trước tiên, để hợp pháp hóa chính quyền cách mạng mới thành lập sau Cách mạng Tháng Tám, khẳng định chủ quyền quốc gia và tạo cơ sở pháp lý để đối ngoại, đấu tranh ngoại giao, ngày 08/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 14 về Tổng tuyển cử. Đây là bước đi chiến lược để xây dựng nền dân chủ, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân và kháng chiến ở Việt Nam.
Sắc lệnh số 14 ngày 08/9/1945 quy định mọi công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và ứng cử, khẳng định mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân. Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên - 06/01/1946 đã đi vào sử sách như một mốc son chói lọi của nền dân chủ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Với hơn 90% cử tri tham gia, nhân dân Việt Nam đã bầu ra Quốc hội khóa I gồm 402 đại biểu đại diện cho mọi tầng lớp xã hội từ công nhân, nông dân đến trí thức và quân nhân. Cuộc bầu cử này là công cụ chính trị sắc bén để hợp pháp hóa nhà nước mới, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trước cuộc kháng chiến trường kỳ. Tại kỳ họp đầu tiên, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 1946, đặt nền móng với bốn nguyên tắc vàng, đó là: phổ thông đầu phiếu, tự do, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền dân chủ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được phát huy cao độ trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có vai trò là "chìa khóa" cốt lõi để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân và củng cố hậu phương vững chắc (đặc biệt là miền Bắc) để chi viện cho tiền tuyến. Đồng thời, hệ thống bầu cử của Việt Nam vẫn không ngừng được duy trì và phát triển qua các khóa bầu cử diễn ra trong điều kiện đất nước bị chia cắt sau Hiệp định giơ ne vơ năm 1954. Các kỳ bầu cử Quốc hội khóa II và khóa III (ở miền Bắc) tập trung vào mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện cho miền Nam. Theo đó, Hiến pháp năm 1959 đã có sự điều chỉnh quan trọng về nguyên tắc bầu cử: thay cụm từ “tự do” bằng “bình đẳng” (phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín) để nhấn mạnh tính bình đẳng giai cấp trong mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam từ sau năm 1975 tiếp tục phát huy là vai trò nền tảng quyền lực thuộc về nhân dân, thúc đẩy đoàn kết dân tộc để thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới, hội nhập. Nó đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững quốc phòng và ổn định chính trị. Là cơ sở để thực hiện dân chủ "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng", phát huy tiềm năng sức dân trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giảm nghèo và hội nhập quốc tế. Nền dân chủ XHCN Việt Nam là "thống nhất nước nhà", "cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội". Đó là sự kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đất nước bước sang một trang mới, cuộc Tổng tuyển cử năm 1976 đã bầu ra Quốc hội khóa VI – Quốc hội của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất với 492 đại biểu. Đến năm 1980, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 1980, trong đó tiếp tục khẳng định bốn nguyên tắc bầu cử và bổ sung một quy định đề cao trách nhiệm của người đại biểu nhân dân: đó là quyền bãi miễn đại biểu nếu người đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
Đến sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Đại hội khởi xướng công cuộc Đổi mới đất nước, Quốc hội Khóa VIII được xem là nhiệm kỳ mang tính “chuyển giao tư duy” quan trọng nhất trong lịch sử lập pháp của Việt Nam. Điểm nhấn quan trọng của giai đoạn này là sự thay đổi trong cách tiếp cận về công tác cán bộ và bầu cử. Lần đầu tiên, tư duy về “số dư” trong bầu cử và yêu cầu về trình độ chuyên môn của đại biểu bắt đầu được nhấn mạnh hơn là tính cơ cấu thuần túy. Quốc hội Khóa VIII đã thông qua Hiến pháp năm 1992. Sự xuất hiện của các khái niệm về kiểm soát quyền lực, tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật trong nghị trường… chính là tiền đề để Việt Nam từng bước từ bỏ cơ chế tập trung quan liêu, chuyển sang xây dựng nền tảng cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây chính là bước đệm tất yếu để hình thành nên một Quốc hội chuyên nghiệp, hiệu quả và gần dân hơn trong các nhiệm kỳ tiếp theo.
Các Hiến pháp năm 1992 và 2013 đã giữ vững các nguyên tắc cốt lõi, đồng thời bổ sung quy trình hiệp thương chặt chẽ qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm lựa chọn những người ưu tú nhất để giới thiệu ứng cử, bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đặc biệt, Luật Bầu cử thống nhất năm 2015 đã đưa quy trình bầu cử trở nên hiện đại và minh bạch hơn. Dù vẫn duy trì đặc trưng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nơi ứng cử viên được giới thiệu qua hiệp thương để đảm bảo sự ổn định chính trị nhưng tính dân chủ ngày càng được mở rộng với tỷ lệ người tự ứng cử có xu hướng tăng dần qua các nhiệm kỳ. Quy trình hiệp thương giúp định hình một Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp hội tụ đủ các thành phần dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi và ngành nghề, phản ánh khối đại đoàn kết dân tộc…
Lịch sử của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã khẳng định bầu cử tại Việt Nam là hành trình khẳng định quyền lực thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quá trình hoàn thiện quyền làm chủ của nhân dân đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Tích cực tham gia cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 chính là thực hiện quyền thiêng liêng để lựa chọn người có đức, có tài, thay mặt mình gánh vác việc nước; đồng thời đây không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Lạng Thương
Tin hoạt động
- Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp – quyền dân chủ thực sự thuộc về... 06/03/2026
- Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 05/03/2026
- Yêu cầu mới từ Đại hội XIV về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số - Từ thực tiễn... 05/03/2026
- Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Hoàng Sơn: Ưu tiên nguồn lực, tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế - xã... 04/03/2026
Thống kê truy cập
Đang truy cập:469
Số lượt truy cập: 672028






